XIN DUNG AI NHU TOI - Thơ Nguyễn Phúc Sông Hương
Nhạc Vĩnh Điện - Tiếng hát Quỳnh Lan
Sunday, June 1, 2008
XIN DUNG AI NHU TOI
MOT GOC DOI
"Một góc đời" của Nhạc Sĩ Lê Tin Hương - Tiếng hát Minh Châu
"Nghe trong tim ta có tiếng thở dài................
Nghe trong tim ta có tiếng hẹn hò……..
Nghe trong tim ta có tiếng gọi chào........
Xin cho qua nhanh ngày tháng còn lạc loài.
Saturday, May 31, 2008
BAN TUYEN NGON CUOI CUNG
bản tuyên ngôn cuối cùng
ngẩng mặt lên,
ta, thiên thần hay ác quỷ,
hay loài động vật hiếm quý?
cần bảo tồn hay hủy diệt
ngơ ngác giữa rừng nuối tiếc
hoang phí hết đời lãng du
không chờ được tới thiên thu !
Nghĩa Angiang - San Jose
BONG HONG CAI AO
Bông Hồng Cài Áo
Bài của Thiền Sư Nhất Hạnh
Bài của Thiền Sư Nhất Hạnh
Để dâng mẹ, và để làm quà vu lan cho những người nào có diễm phúc còn mẹ Medford, tháng tám 1962. n.h. Ý niệm về mẹ thường không thể tách rời ý niệm về tình thương. Mà tình thương là một chất liệu ngọt ngào, êm dịu và cố nhiên là ngon lành. Con trẻ thiếu tình thương thì không lớn lên được. Người lớn thiếu tình thương thì cũng không lớn lên được. Cằn cỗi, héo mòn. Ngày mẹ tôi mất, tôi viết trong nhật ký : tại nạn lớn nhất đã xẩy ra cho tôi rồi! Lớn đến cách mấy mà mất mẹ thì cũng như không lớn, cũng cảm thấy bơ vơ, lạc lõng, cũng không hơn gì trẻ mồ côi. Những bài hát, những bài thơ ca tụng tình mẹ, bài nào cũng dễ hát, cũng hay. Người viết, dù không có tài ba, cũng có rung cảm chân thành; người hát ca, trừ là kẻ không có mẹ ngày từ thưở chưa có ý niệm, ai cũng cảm động khi nghe nói đến tình mẹ, đâu cũng có, thời nào cũng có. Bài thơ mất mẹ mà tôi thích nhất, từ hồi nhỏ, là một bài thơ rất giản dị. Mẹ đang còn sống, nhưng mỗi khi đọc bài ấy thì sợ sệt, lo âu… sợ sệt lo âu cho một cái gì còn xa, chưa đến, nhưng chắc chắn phải đến : Năm xưa tôi còn nhỏ mẹ tôi đã qua đời! lần đầu tiên tôi hiểu thân phận trẻ mồ côi. quanh tôi ai cũng khóc Im lặng tôi sầu thôi để dòng nước mắt chảy là bớt khổ đi rồi… hoàng hôn phủ trên mộ chuông chùa nhẹ rơi rơi tôi thấy tôi mất mẹ mất cả một bầu trời. Một bầu trời thương yêu dịu ngọt, lâu quá mình đã bơi lội trong đó, sung sướng mà không hay, để hôm nay bừng tỉnh thì thấy đã mất rồi. Người nhà quê Việt Nam không ưa nói cách cao kỳ. Nói rằng bà mẹ già là một kho tàng của yêu thương, của hạnh phúc thì cũng đã là cao kỳ rồi. Nói mẹ già là một thứ chuối, một thứ xôi, một thứ đường ngọt dịu, người dân quê đã diễn tả được tình mẹ một cách giản dị vừa đúng mức: Mẹ già như chuối ba hương Như xôi nếp một, như đường mía lau. Ngon biết bao nhiêu! Những lúc miệng vừa nhạt sau một cơn sốt, những lúc như thế thì không có món ăn gì có thể gợi được khẩu vị của ta. Chỉ khi nào mẹ đến, kéo chăn đắp lại ngực cho ta, đặt bàn tay (Bàn tay? Hay là tơ trời đâu la miên ? ) trên trán nóng ta và than thở “khổ chưa, con tôi”, ta mới thấy cảm thấy đầy đủ, ấm áp, thấm nhuần chất ngọt của tình mẹ, ngọt thơm như chuối ba hương, đường mía lau, xôi nếp một ấy, không bao giờ cùng tận. Công cha như núi Thái Sơn, nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra. Nước trong nguồn chảy ra thì bất tuyệt. Tình mẹ là gốc của mọi tình cảm thương yêu. Mẹ là giáo sư dạy về thương yêu, một phân khoa quan trọng nhất trong trường đại học cuộc đời. Không có mẹ, tôi sẽ không biết thương yêu. Nhờ mẹ mà tôi biết được thế nào là tình chúng sinh; nhờ mẹ mà tôi có được chút ý niệm về đức từ bi. Vì mẹ là gốc của tình thương, nên ý niệm mẹ lấn trùm ý niệm thương yêu của tôn giáo vốn cũng dạy về tình thương. Đạo Phật có đức Quán Thế Âm, tôn sùng dưới hình thức mẹ. Em bé vừa mở miệng khóc thì mẹ đã chạy tới bên nôi. Mẹ hiện ra như một thiên thần dịu hiền, làm tiêu tan khổ đau lo âu. Đạo Chúa có Đức Mẹ, Thánh Nữ đồng trinh Maria. Trong tín ngưỡng bình dân Việt có Thánh Mẫu Liễu Hạnh, cũng dưới hình thức mẹ. Bởi vì chỉ cần nghe đến danh từ mẹ, ta đã thấy lòng tràn ngập yêu thương rồi. Mà từ yêu thương đi tới tín ngưỡng và hành động thì không xa, chỉ mấy bước. Tây phương không có ngày Vu Lan nhưng cũng có Ngày Mẹ (Mother’s Day) mồng mười tháng năm. Tôi nhà quê không biết cái tục ấy. Có một ngày tôi đi với thầy Thiên Ân, tới nhà sách ở khu Ginza, Đông Kinh, nửa đường gặp mấy người sinh viên Nhật, bạn của thầy Thiên Ân. Có một cô sinh viên hỏi nhỏ thầy Thiên Ân một câu, rồi lấy trong sắc ra một bông hoa cẩm chướng màu trắng cài vào khuy áo tràng của tôi. Tôi lạ lùng, bỡ ngỡ, không dám hỏi, cố giữ vẻ tự nhiên, nghĩ rằng có một tục lệ chi đó. Sau khi họ nói chuyện xong, chúng tôi vào nhà sách, thầy Thiên Ân mới giảng cho tôi biết đó là Ngày Mẹ, theo tục Tây phương. Nếu anh còn mẹ, anh sẽ được cài một bông hoa màu hồng trên áo, và anh sẽ tự hào được còn mẹ. Còn nếu anh mất mẹ, anh sẽ được cài trên áo một bông hoa trắng. Tôi nhìn lại bông hoa trắng trên áo mà bỗng thấy tủi thân. Tôi cũng mồ côi như bất cứ một đứa trẻ vô phúc, khốn nạn nào; chúng tôi không có được cài trên áo một bông hoa màu hồng. Người được hoa hồng sẽ thấy sung sướng nhớ rằng mình còn mẹ, và sẽ cố gắng để làm vui lòng mẹ, kẻo một mai người khuất núi, có khóc than cũng không còn kịp nữa. Tôi thấy cái tục cài hoa đó đẹp và nghĩ rằng mình có thể bắt chước, áp dụng trong ngày báo hiếu Vu Lan. Mẹ là một dòng suối, một kho tàng vô tận, vậy mà lắm lúc ta không biết, để lãng phí một cách oan uổng. Mẹ là một món quà lớn nhất mà cuộc đời tặng cho ta, những kẻ đã và đang có mẹ. Đừng có đợi đến khi mẹ chết rồi , mới nói : “trời ơi, tôi sống bên mẹ suốt mấy mươi năm trời mà chưa có lúc nào ‘nhìn kỹ’ được mặt mẹ.” Lúc nào cũng chỉ nhìn thoáng qua. Trao đổi vài câu ngắn ngủi. Xin tiền ăn quà. Đòi hỏi mọi chuyện. Ôm mẹ mà ngủ cho ấm. Giận dỗi. Hờn lẫy. Gây bao nhiêu chuyện rắc rối cho mẹ phải lo lắng, ốm mòn, thức khuya, dậy sớm vì con. Chết sớm cũng vì con. Để mẹ phải suốt đời bếp núc, vá may, giặt rửa, dọn dẹp. Và để mình bận rộn suốt đời, lên xuống ra vào lợi danh. Mẹ không có thì giờ nhìn kỹ con. Và con không có thì giờ nhìn kỹ mẹ. Để khi mẹ mất, mình có cảm nghĩ : thật như là mình chưa bao giờ thật có ý thức rằng mình có mẹ. Chiều nay khi đi học về, hoặc khi đi làm việc ở sở về, em hãy vào phòng mẹ với một nụ cười thật trầm lặng và thật bền. Em sẽ ngồi xuống bên mẹ. Sẽ bắt mẹ dừng kim chỉ, mà đừng nói năng chi. Rồi em sẽ nhìn mẹ thật lâu, thật kỹ để trông thấy mẹ, và để biết rằng mẹ đang sống và đang ngồi bên em. Cầm tay mẹ, em sẽ hỏi một câu ngắn làm mẹ chú ý. Em hỏi : “Mẹ ơi, mẹ có biết không ?” Mẹ sẽ hơi ngạc nhiên, và sẽ hỏi em, vừa cười vừa hỏi : “biết gì?” Vẫn nhìn vào mắt mẹ, vẫn giữ nụ cười trầm lặng và bền, em sẽ hỏi tiếp : “mẹ có biết là con thương mẹ không ?” Câu hỏi sẽ không cần được trả lời. Cho dù người lớn ba bốn mươi tuổi, cũng có thể hỏi một câu như thế, bởi vì người là con của mẹ. Mẹ và em sẽ đều trở thành bất diệt và ngày mai, mẹ mất, em sẽ không hối hận, đau lòng. Ngày Vu Lan ta nghe giảng và đọc sách nói về ngài Mục Liên và về sự hiếu để. Công cha, nghĩa mẹ. Bổn phận làm con. Ta lạy Phật cầu cho mẹ sống lâu. Hoặc lạy mười phương tăng chú nguyện cho mẹ được tiêu diêu nơi cực lạc, nếu mẹ đã mất. Con mà không có hiếu là con bỏ đi. Nhưng hiếu thì cũng do tình thương mà có; không có tình thương, hiếu chỉ là giả tạo, khó khăn, vụng về, cố gắng mệt nhọc. Mà có tình thương là có đủ hết rồi. Cần chi nói đến bổn phận. Thương mẹ, như vậy là đủ. Mà thương mẹ không phải là một bổn phận. Thương mẹ là một cái gì rất tự nhiên. Như khát nước thì uống. Con thì phải có mẹ, phải thương mẹ. Chữ phải đây không phải là luân lý, là bổn phận. Phải đây là lý đương nhiên. Con thì đương nhiên thương mẹ, cũng như khát thì đương nhiên đi tìm nước uống. Mẹ thương con, nên con thương mẹ. Con cần mẹ, mẹ cần con. Nếu mẹ không cần con, con không cần mẹ, thì đó không phải là mẹ, là con. Đó là lạm dụng danh từ mẹ con. Ngày xưa, thầy giáo hỏi rằng : “con mà thương mẹ thì phải làm thế nào ?” Tôi trả lời : “vâng lời, cố gắng, giúp đỡ, phụng dưỡng lúc mẹ về già và thờ phụng khi mẹ khuất núi.” Bây giờ thì tôi biết rằng : “con thương mẹ thì không phải “làm thế nào” gì hết. Cứ thương mẹ, thế là đủ lắm rồi, đủ hết rồi, cần chi phải hỏi làm thế nào nữa!” Thương mẹ không phải là một vấn đề luân lý đạo đức. Anh mà nghĩ rằng tôi viết bài này để khuyên anh về luân lý đạo đức là anh lầm. Thương mẹ là một vấn đề hưởng thụ. Mẹ như suối ngọt, như đường mía lau, như xôi nếp một. Anh không hưởng thụ thì uổng cho anh. Chị không hưởng thụ thì thiệt cho chị. Tôi chỉ cảnh cáo cho anh chị đừng có than thở rằng : “đời ta không còn gì cả.” Một món quà như mẹ mà còn không vừa ý thì hoạ chăng có làm Ngọc Hoàng Thượng Đế mới vừa ý, mới bằng lòng, mới sung sướng. Nhưng tôi biết Ngọc Hoàng không sung sướng đâu, bởi Ngọc Hoàng là đấng tự sinh, không bao giờ có diễm phúc có được một bà mẹ. Tôi kể chuyện này, anh đừng nói tôi khờ dại. Đáng lẻ chị tôi không nên đi lấy chồng, và tôi, tôi không nên đi tu mới phải. Chúng tôi bỏ mẹ mà đi, người thì theo cuộc đời mới bên cạnh người con trai thương yêu; người thì đi theo lý tưởng đạo đức mình say mê và tôn thờ. Ngày chị tôi đi lấy chồng, mẹ tôi lo lắng lăng xăng, không tỏ vẻ buồn bã chi. Nhưng đến khi chúng tôi ăn cơm trong phòng, ăn qua loa để đợi giờ rước dâu, thì mẹ tôi không nuốt được miếng nào. Mẹ nói : “mười tám năm trời nó ngồi ăn cơm với mình, bây giờ nó ăn bữa cuối cùng rồi thì nó sẽ đi ăn ở một nhà khác.” Chị tôi gục đầu xuống mâm cơm, khóc. Chị nói : “thôi con không lấy chồng nữa.” Nhưng rốt cuộc thì chị cũng đi lấy chồng. Còn tôi thì bỏ mẹ mà đi tu. Các ái từ sở thân, là lời khen ngợi người có chí xuất gia. Tôi không tự hào chi về lời khen đó cả. Tôi thương mẹ, nhưng tôi có lý tưởng, vì vậy phải xa mẹ. Thiệt thòi cho tôi, có thế thôi. Ở trên đời, có nhiều khi ta phải chọn lựa. Mà không có sự chọn lựa nào là không khổ đau. Anh không thể bắt cá hai tay. Chỉ khổ là vì muốn làm người nên anh phải khổ đau. Tôi không hối hận vì bỏ mẹ đi tu, nhưng tôi tiếc và thương cho tôi vô phúc thiệt thòi, nên không được hưởng thụ tất cả kho tàng quí báu đó. Mỗi buổi chiều lạy Phật, tôi cầu nguyện cho mẹ. Nhưng tôi không được ăn chuối ba hương, xôi nếp một và đường mía lau. Anh cũng đừng tưởng tôi khuyên anh: không nên đuổi theo sự nghiệp mà chỉ nên ở nhà với mẹ. Tôi đã nói là tôi không khuyên răn ai hết, tôi không giảng luân lý đạo đức rồi mà. Tôi chỉ nhắc anh : mẹ là chuối, là xôi, là đường, là mật, là ngọt ngào, là tình thương. Để anh đừng quên. Để chị đừng quên. Để em đừng quên. Quên là một lỗi lớn : Cũng phải là lỗi nữa, mà là một sự thiệt thòi. Mà tôi không muốn anh chị thiệt thòi, vô tình mà bị thiệt thòi, khờ dại mà bị thiệt thòi. Tôi xin cài vào túi áo một bông hoa hồng : để anh sung sướng , thế thôi. Nếu có khuyên, thì tôi sẽ khuyên anh như thế này. Chiều nay, khi đi học về, hoặc đi làm về, anh hãy vào phòng mẹ với một nụ cười thật trầm lặng và thật bền. Anh sẽ ngồi xuống bên mẹ. Sẽ bắt mẹ dừng kim chỉ, mà đừng nói năng chi. Rồi anh sẽ nhìn mẹ thật lâu, thật kỹ để trông thấy mẹ, và để biết rằng mẹ đang sống và đang ngồi bên anh. Cầm tay mẹ, anh sẽ hỏi một câu ngắn làm mẹ chú ý. Anh hỏi : “Mẹ ơi, mẹ có biết không ?” Mẹ sẽ hơi ngạc nhiên, và sẽ nhìn anh, vừa cười vừa hỏi: “biết gì?” Vẫn nhìn vào mắt mẹ, vẫn giữ nụ cười trầm lặng và bền, anh sẽ hỏi tiếp: “mẹ có biết là con thương mẹ không ?” Câu hỏi sẽ không cần được trả lời. Cho dù anh lớn ba bốn mươi tuổi, chị lớn ba bốn mươi tuổi thì cũng hỏi câu ấy. Bởi vì anh, bởi vì chị, bởi vì em đều là con của mẹ. Mẹ và anh sẽ sung sướng, sẽ được sống trong ý thức tình thương bất diệt . Và ngày mai, mẹ mất, anh sẽ không hối hận, đau lòng, tiếc rằng anh không có mẹ. Đó là điệp khúc tôi muốn ca hát cho anh nghe hôm nay. Và anh hãy ca, chị hãy ca, em hãy ca cho cuộc đời đừng chìm trong vô tâm, quên lãng. Đoá hoa màu hồng tôi cài trên áo anh rồi đó. Anh hãy sung sướng đi.
TIEN TRI HAY NGON SU ?
Tiên tri" hay "Ngôn sứ "?
Kính gửi cha Vinh Sơn Nguyễn Thế Thủ,
Giáo sư Phụng vụ Đại Chủng viện Thánh Giuse.
Thưa cha, nhân đọc bài “vài suy nghĩ về bản dịch mới 2005, Nghi thức Thánh lễ” do cha viết, đăng trong Bài Giảng Chúa Nhật số 7 và số 8 năm 2006, con xin gửi đến cha một chia sẻ chân tình về nhận định của cha trong bài viết khi đề cập đến từ “propheta” ở trang 120, số 8 – 2006 (trong bài viết của cha cả 3 lần đều viết là: “prophetas”?). Cha và con đã biết nhau rồi nên con khỏi phải tự giới thiệu. Sở dĩ con lưu tâm đến từ này vì rất thường gặp khi dạy giáo lý, đặc biệt khi trình bày về lịch sử cứu độ mà vai trò của những “propheta” (lt) hoặc “prophetes” (hl) rất quan trọng.
“Propheta”(lt) trong kinh Tin kính.
Đối với đại đa số giáo dân, khi đọc kinh Tin kính đến phần tuyên xưng về Chúa Thánh Thần trước sau vẫn đọc: "Người đã dùng các “tiên tri” mà phán dạy". Từ “tiên tri” là từ rất thông dụng ít là cho đến đầu thập niên 70. Sau này xuất hiện từ "ngôn sứ". Vì thế, bản dịch sách lễ Rôma 1992 đã dùng từ "ngôn sứ" trong câu tuyên xưng trên, nhưng vì không có lệnh bắt buộc phải đọc nên mọi người vẫn đọc là "tiên tri" . Đây cũng là một thuận lợi cho bản dịch sách lễ Rôma năm 2005 khi muốn gạt bỏ từ "ngôn sứ" để dùng lại từ "tiên tri" của bản dịch năm 1971! Sau đây, con xin nói lên một suy nghĩ của riêng mình.
1. Từ "tiên tri" .
Khi tìm hiểu nguồn gốc của từ "tiên tri" , con được biết gốc của nó trong tiếng Hipri là “Nabi" (נָ בִיא), người được Thiên Chúa gọi, người được đề cử để nói. Nghĩa của từ này không bao hàm sự biết trước tương lai. Bản Kinh Thánh Hi Lạp (LXX) đã dùng danh từ Prophetes (προφήτης) để dịch từ Nabi. Từ prophetes gồm có giới từ προ không chỉ có nghĩa thời gian mà còn có nghĩa không gian (phía trước, đằng trước) và động từ φημι có nghĩa là nói (dire), quả quyết (affirmer), khuyên nhủ, răn bảo (conseiller), ra lệnh (commander) (Lexique Grec-Français, trang 500). Vì thế, các từ điển KT đều giải thích từ prophetes là người nói đàng trước, nói phía trước, nghĩa là nói nhân danh, nói thay một ai đó. Trong Kinh Thánh, những prophetes là những phát ngôn nhân, mang lời Thiên Chúa đến cho dân. Các Ngài ít có những lời tiên báo nhưng nhiều lời giảng dạy, răn đe, quở trách, khuyên nhủ dân Chúa. Từ "tiên tri" làm sao diễn tả được đầy đủ các nghĩa trên? Không biết cha dựa vào đâu để cho rằng từ tiên tri trong từ điển Trung hoa, mang nhiều ý nghĩa: nói trước, nói tiên tri, nói thay ai, nói nhân danh ai. Con đã vào nhà sách, các thư viện, lục rất nhiều các từ điển tiếng Hoa cũng như từ điển Hán Việt của các tác giả: Đào Duy Anh, Nguyễn Văn Khôn, Thanh Nghị, Bửu Kế, Thiều Chửu, Lê Văn Đức, Khổng Đức Long Cương, Trương Văn Giới và Lê Khắc Kiều Lục, Viện Ngôn Ngữ Học,…thì từ 先 知 (xiānzhi) "tiên tri" , chỉ có nghĩa là người biết trước tương lai, nói về những điều sẽ xảy ra. Nhưng không hề có hai nghĩa sau như cha nói ở trên.
2. Từ "ngôn sứ".
Còn từ “ngôn sứ”, có người cho rằng không có trong cách nói của người Trung Hoa, nhận định đó đúng hay sai xin dành cho những nhà ngôn ngữ học. Còn theo con, từ “ngôn sứ” trong tiếng Hoa gồm từ “ngôn” 言(yán) có bộ khẩu 口 là lời nói, nói; từ “sứ” 使(shĭ) gồm bộ nhân亻và bộ lại 吏, nghĩa là người vâng lệnh trên đi làm một việc gì. Con không biết từ "ngôn sứ" do đâu mà có, nhưng từ thập niên 70 đã xuất hiện từ này trong các sách thần học như "Điển ngữ thần học Kinh Thánh" của Giáo Hoàng học viện Piô X Đà lạt in năm 1974, quyển III trang 435, có điều lại đổi thứ tự 2 chữ: “sứ ngôn”; nhưng phân tích rõ ràng, đầy đủ về sứ mạng của những người được gọi là "ngôn sứ" dựa trên những đoạn Kinh Thánh. Một tài liệu giá trị nữa là bộ Thánh Công Đồng Chung Vaticanô II, cũng do phân khoa thần học GHHV Piô X-1972 trong phần phân tích mục lục trang 1184 nói về từ "ngôn sứ", con xin trích nguyên văn: "Từ "ngôn sứ" được dùng thay cho từ "tiên tri" để chỉ một người được Thiên Chúa kêu gọi, được đặt làm sứ giả chuyển "Lời" của Chúa cho người khác, giải thích Sứ điệp của Thiên Chúa cho con người, đồng thời kêu gọi con người trung thành với giao ước, an ủi con người trong cuộc lưu đày đau khổ cũng như chuyển lời cầu xin của con người lên Thiên Chúa . Đó là nhiệm vụ đích thực mà từ ngữ "tiên tri" không diễn tả hết được".
Sau cùng, khi soạn bài để dạy giáo lý, con dùng nhiều tài liệu giáo lý của nhiều giáo phận: Xuân Lộc-Nha Trang- Cần Thơ, nhất là cuốn giáo lý Hội Thánh Công giáo của Hội Đồng Giám Mục Việt Nam, Tp. HCM 1997, sách giáo lý của cha Nguyễn Văn Tuyên, cha Hoàng Sỹ Quý dòng Tên, rồi Bộ Giáo Luật Bản dịch Việt ngữ của Ðức Ông Phương, Đức Ông Vinh và một số Linh mục ở Rôma đã dùng từ “ngôn sứ” hoặc "sứ ngôn" (điều 204) và nhiều sách, tạp chí, cours học của các tu sĩ, các tài liệu tham khảo tất cả đều dùng từ "ngôn sứ". Và bản Kinh Thánh do nhóm CGKPV đã có mặt ở khắp hang cùng ngõ hẻm cũng dùng từ "ngôn sứ". Ngoài ra, các tác phẩm của Đức Hồng Y Nguyễn Văn Thuận cũng dùng từ ngôn sứ. Vậy mà, chỉ qua một cuộc “thảo luận sôi nổi” và “bỏ phiếu” UBPT đã gạt bỏ một từ phong phú và đúng đắn như vậy để dùng một từ cũ kỹ mà nội dung không diễn đạt hết ơn gọi và sứ mạng của những vị gọi là prophetes. Cha cũng cho biết theo cha Tổng Thư Ký UBPT đa số các giáo phận đã gửi đề nghị giữ từ “tiên tri” mà không dùng từ “ngôn sứ” nữa, theo con điều này không đáng tin. Danh sách các thành viên trong uỷ ban không tạo cho con sự tin tưởng so với những chứng cứ con nêu ở trên vì con biết khá nhiều về những vị này. À con cũng quên chưa nhắc đến một vị rất có uy tín và khả năng chuyên môn cao về Kinh Thánh hiện nay là cha Vũ Phan Long, OFM mà trong những giáo trình cũng như những bài viết ở báo Hiệp Thông cho đến nay vẫn dùng từ “ngôn sứ”. Sau cùng, như để làm cho việc dùng lại từ “tiên tri” của UB có cơ sở, cha đưa ra một “ghi nhận đáng kể là bản dịch Phụng vụ 1971 và vài nhà Kinh Thánh danh tiếng như cha Nguyễn Thế Thuấn và cha Trần Đức Huân… đã dùng từ “tiên tri” mà không dùng từ “ngôn sứ” (nguyên văn).Điều này không thuyết phục vì hai lý do:
a) Vào thời điểm đó chưa có từ “ngôn sứ”.
b) Những bản dịch cũ chỉ có tính cách tham khảo để giúp bản dịch mới hoàn hảo hơn, chứ không luôn luôn là tiêu chuẩn để bản mới phải theo. Con xin lấy ví dụ bản dịch của cha Trần Đức Huân có một câu trong Tin Mừng Gioan1,1: θεός hh8h8hh8hçoỏhv o λόγος, nhưng chắc hẳn ngài đã theo bản La tinh: Deus erat Verbum, vì không có mạo từ nên ngài dịch “Thiên Chúa là Ngôi Lời” mà lẽ ra phải dịch: “Ngôi Lời là Thiên Chúa” vì trong câu Hy Lạp có mạo từ nên λόγος là chủ ngữ trong câu. Còn bản dịch của cha N.T.Thuấn trong sách Habacuc 2,16 có một từ: עָרֵל (con không tiện viết ra ở đây), thử hỏi có ai dám dùng lại từ đó cho bản dịch mới không? Cha lấy những bản văn cách đây gần nửa thế kỷ để làm tiêu chuẩn thì làm sao có sức thuyết phục.
Con tìm trong nhà mình xem có sách vở tài liệu nào còn dùng từ "tiên tri" để chỉ những prophetes, thì tình cờ con thấy một băng video ca nhạc thiếu nhi do nhà văn hóa thiếu nhi Tp. phát hành cách nay gần 10 năm, của đứa con trai con, có một bài hát rất vui nhộn với những hình ảnh minh họa: “Kìa năm ông "tiên tri" đi xem voi...” bài hát diễn tả năm ông mù xem voi, mỗi ông rờ một bộ phận, cũng tranh luận sôi nổi rồi đoán con voi là như thế! Ông nào cũng cho mình là đúng rốt cuộc cả 5 đều nói trật lất, chắc hẳn tác giả bài hát đã muốn dùng từ “tiên tri” để chỉ những người hay nói mò!!! dù sao thì từ "tiên tri" cũng dễ làm người ta liên tưởng đến những ông thầy bói, thầy chiêm tinh, tướng số ...
3. Dùng từ “tiên tri” hay “ngôn sứ” ?
Ngôn ngữ chỉ là phương tiện truyền đạt tư tưởng có tính quy ước và tương đối. Theo con, cả hai từ “tiên tri” và “ngôn sứ” vẫn nên được sử dụng tuỳ theo trường hợp. Từ “ngôn sứ” để chỉ một người được Chúa giao cho sứ mạng phục vụ dân Chúa bằng lời giảng dạy, truyền đạt lời Chúa cho dân, đôi lúc có cả những lời quở trách, răn đe, cũng có lúc “nói tiên tri” về những điều sẽ xảy đến. Từ “tiên tri” chỉ một ơn huệ, một khả năng Thiên Chúa ban cho một người để loan báo một điều nào đó sẽ xảy đến theo ý định của Thiên Chúa, như trường hợp Thượng tế Caipha đã nói một lời tiên tri về cái chết của Chúa Giêsu sẽ quy tụ con cái Thiên Chúa (x. Ga 11,50-51) và theo Thánh Phaolô, ơn tiên tri cũng chỉ có ngần có hạn (x. 1Cr 13,9). Đôi lúc, trong một câu cần sử dụng cả 2 từ thì cách diễn tả mới rõ ràng như 1Cr 14,32: “ngôn sứ thì làm chủ những cảm hứng tiên tri của mình”.
Thưa cha, trong bài viết cha đưa ra một lý do mà UB không dùng từ “ngôn sứ” vì người Trung Hoa không hiểu cách ghép từ này, con xin phép hỏi UB dịch Phụng vụ cho người Việt Nam hay người Trung Hoa. Tiếng Việt của mình chịu ảnh hưởng của nhiều ngôn ngữ, đặc biệt là Trung Hoa. Việc tạo từ mới để làm cho cách diễn tả được phong phú miễn là cách tạo từ hợp lý và được nhiều người chấp nhận. Xin hỏi cha có từ điển tiếng Hán nào có chữ bí tích không? Hay là ta phải ghép hai từ bí 秘 và tích 迹 và còn nhiều từ nữa như huấn giáo, linh mục, Phụng vụ, dự tòng…có tác giả còn ghép một tiếng Nôm với một tiếng Hán như từ “nhiệm tích” mà có ai phản đối đâu mặc dù cách ghép đó không hợp lý. Con hy vọng Giáo Hội Viêt Nam sớm có một cuốn từ điển đầy đủ, chính xác và khách quan về các từ thần học cũng như Phụng vụ, để kho tàng ngôn ngữ nhà đạo được phong phú. Theo con nhận thấy, Chúa ban cho Giáo Hội Việt Nam rất nhiều tu sĩ, linh mục dòng cũng như triều, có khả năng và trí tuệ trong mọi lãnh vực thần học, Kinh Thánh, mục vụ … vị nào cũng được học đến nơi đến chốn, bằng cấp giá trị. Nếu như biết đón nhận nhau, biết nhìn nhận giá trị của nhau để đi đến hiệp nhất trong những khác biệt, thì ích lợi biết bao, dân Chúa được hưởng những tinh hoa của sự hiệp nhất ấy, nhưng thực tế, ai cũng cho mình là đúng, công khai hoặc ngấm ngầm chê bai để hạ uy tín của nhau bằng cách này cách khác. Lời nói sơ suất vô tình hay hữu ý của những người có tài năng, có chức vị càng cao sẽ gây tai hoạ càng nhiều.
Đôi lời tâm sự.
Thưa cha, con mong rằng lá thư này không làm mất đi tương quan của cha và con, cho dù tương quan ấy chẳng được mặn mà lắm, vì cha biết đấy, thỉnh thoảng con vẫn nhờ cha chỉ dẫn những điều con chưa nắm vững về phụng vụ khi soạn bài dạy giáo lý, vì hiện nay trong các linh mục trẻ có ai hơn cha về lãnh vực Phụng vụ đâu, con vẫn phải tham khảo sách của cha để soạn bài. Con còn một tâm sự muốn chia sẻ với cha, là ngoài bài của cha, con cũng đọc bài của Đức Cha Phêrô Trần Đình Tứ, chủ tịch UBPT trong báo Hiệp Thông và tập san Công Giáo Dân Tộc, con nhận thấy bài trả lời phỏng vấn của ngài, cũng cùng một kiểu nói như cha, nghĩa là luôn để cao những việc làm của UBPT là đúng, là hay, là siêu việt, trong sáng, thỉnh thoảng lại chen vào những câu nhắc nhở cho độc giả thấy cái quyền của mình. Con không dám bàn luận nhiều, chỉ xin nhận xét vài điểm này. Đọc phần cuối bài của Đức Cha, lúc đầu con thấy vui vì nhận thấy tâm tình của Đức Cha sao mà gần gũi với mình thế, ngài vui vì thấy sách bán chạy, hết sớm, con làm nghề sách cũng vui vì làm được nhiều, kinh tế ổn định … nhưng bỗng thấy buồn vì hình ảnh vị mục tử vui vì bán được nhiều sách khá mới mẻ, không hề có trong Tin Mừng. Trong Tin Mừng con chỉ thấy hình ảnh vị mục tử vui vì tìm được con chiên lạc, dù phải hy sinh mạo hiểm, vui vì thấy đoàn chiên của mình trưởng thành được no đủ với những thức ăn bổ dưỡng. Ngày nay, chẳng còn thấy hình ảnh đẹp và cảm động của một Inhaxiô Antiôkhia, Giám mục tử đạo viết thư cho Pôlycap cũng là Giám mục với lời lẽ chân thành, khen ngợi có, khuyến khích có, cũng không ngại nhắc nhở. Ngài viết trong thư rằng: “Xin Đức Cha chứng tỏ mình là Giám mục bằng cách xả thân lo lắng cho đoàn chiên. Mối bận tâm hàng đầu của Đức cha phải là sự hiệp nhất… Xin Đức cha hãy lấy lòng bác ái mà nhẫn nhục chịu đựng mọi người như Đức cha vẫn làm, vất vả càng nhiều, công phúc càng lớn… Nếu Đức cha chỉ yêu thương các môn đệ tốt lành thì Đức cha chẳng đáng được công trạng gì. Tốt hơn Đức cha hãy lấy đức hiền hoà mà cảm hoá những kẻ hư hỏng nhất. Người ta không băng bó mọi vết thương như nhau. Đức cha hãy lấy sự dịu dàng như nước mà hạ nhiệt những cơn nóng nảy. Đức cha phải khôn ngoan như con rắn và đơn sơ như bồ câu…” (Trích trong bài đọc 2, KS thứ sáu, tuần XVII TN). Ngày nay, các Đấng thường nể nhau, sợ mất lòng nhau, nên thường chỉ ca tụng nhau, chứ không dám thẳng thắn góp ý để xây dựng. Con nói lên những suy nghĩ thật lòng mà không sợ mang tiếng là hỗn, còn các Đấng muốn la rầy con thế nào thì tuỳ. Vì từ cổ chí kim yêu nên tốt ghét nên xấu như câu chuyện Di Tử Hà khi còn được vua sủng ái, việc tự tiện lấy xe của vua để đưa mẹ đi chữa bệnh, thay vì phải bị chặt chân theo phép nước, nhưng vua lại khen đó là người có hiếu. Một lần khác cùng vua đi dạo trong vườn, đang ăn quả đào thấy ngon còn một nửa bèn đưa cho vua, vua khen là một trung thần yêu vua đến độ của ăn đang ngon miệng mà biết nhường vua. Đến sau, vua không còn sủng ái nữa, Di Tử Hà một hôm phạm lỗi, vua nhắc lại cả lỗi cũ là dám tự tiện lấy xe và dám cho vua ăn của thừa, vì thế bị mang ra trị tội (Cổ học tinh hoa).
Đoạn cuối trong bài trả lời phỏng vấn, còn có một câu: “Đừng áp đặt ý kiến và cách thức làm việc của mình lên đầu lên cổ người khác, bắt người khác phải làm theo rồi nếu không được thì la làng lên!”. Ôi, một Giám mục, thầy dạy chân lý mà lại có kiểu nói gay gắt như vậy ư, chẳng dịu dàng chút nào, có lẽ ngài đang bức xúc một vấn đề gì đó mà không tiện nói ra một cách thẳng thắn. Con chỉ buồn mà nói vậy thôi, chứ không dám coi thường ngài đâu, con nhớ một câu của ĐHY Thuận trong cuốn đường hy vọng: “dưới lớp áo nào cũng là một trái tim bằng thịt”, và trong lá thư của Thánh Inhaxiô gửi Thánh Pôlycap cũng có câu: “Vì Đức cha cũng là con người có hồn có xác như ai”. Vì thế, mọi tín hữu phải cầu nguyện cho các Giám mục nhiều hơn nữa và cảm thông với các ngài về những bất toàn. Khổ nỗi giáo dân Việt Nam luôn coi các Đấng như thần thánh, làm cho các ngài cũng thấy mình như bất khả xâm phạm. Người ta phạm đủ thứ tội với Chúa thì không cảm thấy nặng nề, đối xử bất công với nhau thì thấy bình thường, nhưng ai tỏ ra bất kính với các Đấng, dù là một điều nhỏ nhặt thì cũng bị lên án. Một thanh niên uống rượu thì bị coi là bê tha, nhưng một linh mục uống rượu be bét, nói năng lung tung thì được coi là chịu chơi, biết hoà đồng với mọi người. Một giáo dân xưng hô với linh mục là cha xưng “tôi”, thì bị cho là bất lịch sự, là hỗn, nhưng linh mục gọi người khác là mày xưng tao, thì lại thấy bình thường, điều này con đã từng mắt thấy tai nghe.
Thưa cha, con nói miên man nhiều chuyện chắc cũng làm cha bực mình, và biết rằng những điều mình nói chẳng được các Đấng quan tâm đâu, nhưng trong lòng con vẫn có sự thúc giục phải nói lên những điều mình suy nghĩ. Con luôn ao ước rằng sau một thời gian với những góp ý, phê bình, tranh chấp, kể cả những bất hoà sẽ đưa Giáo Hội Việt Nam đến chỗ trưởng thành hơn, yêu thương và quý trọng nhau hơn để dù ở trong cương vị nào, lãnh vực nào vẫn có một sự hiệp thông và cảm mến nhau. Kính chúc cha luôn dồi dào sức khoẻ, giữ mãi được nét tươi trẻ và đầy hăng say trong sứ mạng xây dựng Hội Thánh. Chào cha.
An Lạc, ngày 28 tháng 7 năm 2006
Phêrô Nguyễn Tuấn Hoan
Kính gửi cha Vinh Sơn Nguyễn Thế Thủ,
Giáo sư Phụng vụ Đại Chủng viện Thánh Giuse.
Thưa cha, nhân đọc bài “vài suy nghĩ về bản dịch mới 2005, Nghi thức Thánh lễ” do cha viết, đăng trong Bài Giảng Chúa Nhật số 7 và số 8 năm 2006, con xin gửi đến cha một chia sẻ chân tình về nhận định của cha trong bài viết khi đề cập đến từ “propheta” ở trang 120, số 8 – 2006 (trong bài viết của cha cả 3 lần đều viết là: “prophetas”?). Cha và con đã biết nhau rồi nên con khỏi phải tự giới thiệu. Sở dĩ con lưu tâm đến từ này vì rất thường gặp khi dạy giáo lý, đặc biệt khi trình bày về lịch sử cứu độ mà vai trò của những “propheta” (lt) hoặc “prophetes” (hl) rất quan trọng.
“Propheta”(lt) trong kinh Tin kính.
Đối với đại đa số giáo dân, khi đọc kinh Tin kính đến phần tuyên xưng về Chúa Thánh Thần trước sau vẫn đọc: "Người đã dùng các “tiên tri” mà phán dạy". Từ “tiên tri” là từ rất thông dụng ít là cho đến đầu thập niên 70. Sau này xuất hiện từ "ngôn sứ". Vì thế, bản dịch sách lễ Rôma 1992 đã dùng từ "ngôn sứ" trong câu tuyên xưng trên, nhưng vì không có lệnh bắt buộc phải đọc nên mọi người vẫn đọc là "tiên tri" . Đây cũng là một thuận lợi cho bản dịch sách lễ Rôma năm 2005 khi muốn gạt bỏ từ "ngôn sứ" để dùng lại từ "tiên tri" của bản dịch năm 1971! Sau đây, con xin nói lên một suy nghĩ của riêng mình.
1. Từ "tiên tri" .
Khi tìm hiểu nguồn gốc của từ "tiên tri" , con được biết gốc của nó trong tiếng Hipri là “Nabi" (נָ בִיא), người được Thiên Chúa gọi, người được đề cử để nói. Nghĩa của từ này không bao hàm sự biết trước tương lai. Bản Kinh Thánh Hi Lạp (LXX) đã dùng danh từ Prophetes (προφήτης) để dịch từ Nabi. Từ prophetes gồm có giới từ προ không chỉ có nghĩa thời gian mà còn có nghĩa không gian (phía trước, đằng trước) và động từ φημι có nghĩa là nói (dire), quả quyết (affirmer), khuyên nhủ, răn bảo (conseiller), ra lệnh (commander) (Lexique Grec-Français, trang 500). Vì thế, các từ điển KT đều giải thích từ prophetes là người nói đàng trước, nói phía trước, nghĩa là nói nhân danh, nói thay một ai đó. Trong Kinh Thánh, những prophetes là những phát ngôn nhân, mang lời Thiên Chúa đến cho dân. Các Ngài ít có những lời tiên báo nhưng nhiều lời giảng dạy, răn đe, quở trách, khuyên nhủ dân Chúa. Từ "tiên tri" làm sao diễn tả được đầy đủ các nghĩa trên? Không biết cha dựa vào đâu để cho rằng từ tiên tri trong từ điển Trung hoa, mang nhiều ý nghĩa: nói trước, nói tiên tri, nói thay ai, nói nhân danh ai. Con đã vào nhà sách, các thư viện, lục rất nhiều các từ điển tiếng Hoa cũng như từ điển Hán Việt của các tác giả: Đào Duy Anh, Nguyễn Văn Khôn, Thanh Nghị, Bửu Kế, Thiều Chửu, Lê Văn Đức, Khổng Đức Long Cương, Trương Văn Giới và Lê Khắc Kiều Lục, Viện Ngôn Ngữ Học,…thì từ 先 知 (xiānzhi) "tiên tri" , chỉ có nghĩa là người biết trước tương lai, nói về những điều sẽ xảy ra. Nhưng không hề có hai nghĩa sau như cha nói ở trên.
2. Từ "ngôn sứ".
Còn từ “ngôn sứ”, có người cho rằng không có trong cách nói của người Trung Hoa, nhận định đó đúng hay sai xin dành cho những nhà ngôn ngữ học. Còn theo con, từ “ngôn sứ” trong tiếng Hoa gồm từ “ngôn” 言(yán) có bộ khẩu 口 là lời nói, nói; từ “sứ” 使(shĭ) gồm bộ nhân亻và bộ lại 吏, nghĩa là người vâng lệnh trên đi làm một việc gì. Con không biết từ "ngôn sứ" do đâu mà có, nhưng từ thập niên 70 đã xuất hiện từ này trong các sách thần học như "Điển ngữ thần học Kinh Thánh" của Giáo Hoàng học viện Piô X Đà lạt in năm 1974, quyển III trang 435, có điều lại đổi thứ tự 2 chữ: “sứ ngôn”; nhưng phân tích rõ ràng, đầy đủ về sứ mạng của những người được gọi là "ngôn sứ" dựa trên những đoạn Kinh Thánh. Một tài liệu giá trị nữa là bộ Thánh Công Đồng Chung Vaticanô II, cũng do phân khoa thần học GHHV Piô X-1972 trong phần phân tích mục lục trang 1184 nói về từ "ngôn sứ", con xin trích nguyên văn: "Từ "ngôn sứ" được dùng thay cho từ "tiên tri" để chỉ một người được Thiên Chúa kêu gọi, được đặt làm sứ giả chuyển "Lời" của Chúa cho người khác, giải thích Sứ điệp của Thiên Chúa cho con người, đồng thời kêu gọi con người trung thành với giao ước, an ủi con người trong cuộc lưu đày đau khổ cũng như chuyển lời cầu xin của con người lên Thiên Chúa . Đó là nhiệm vụ đích thực mà từ ngữ "tiên tri" không diễn tả hết được".
Sau cùng, khi soạn bài để dạy giáo lý, con dùng nhiều tài liệu giáo lý của nhiều giáo phận: Xuân Lộc-Nha Trang- Cần Thơ, nhất là cuốn giáo lý Hội Thánh Công giáo của Hội Đồng Giám Mục Việt Nam, Tp. HCM 1997, sách giáo lý của cha Nguyễn Văn Tuyên, cha Hoàng Sỹ Quý dòng Tên, rồi Bộ Giáo Luật Bản dịch Việt ngữ của Ðức Ông Phương, Đức Ông Vinh và một số Linh mục ở Rôma đã dùng từ “ngôn sứ” hoặc "sứ ngôn" (điều 204) và nhiều sách, tạp chí, cours học của các tu sĩ, các tài liệu tham khảo tất cả đều dùng từ "ngôn sứ". Và bản Kinh Thánh do nhóm CGKPV đã có mặt ở khắp hang cùng ngõ hẻm cũng dùng từ "ngôn sứ". Ngoài ra, các tác phẩm của Đức Hồng Y Nguyễn Văn Thuận cũng dùng từ ngôn sứ. Vậy mà, chỉ qua một cuộc “thảo luận sôi nổi” và “bỏ phiếu” UBPT đã gạt bỏ một từ phong phú và đúng đắn như vậy để dùng một từ cũ kỹ mà nội dung không diễn đạt hết ơn gọi và sứ mạng của những vị gọi là prophetes. Cha cũng cho biết theo cha Tổng Thư Ký UBPT đa số các giáo phận đã gửi đề nghị giữ từ “tiên tri” mà không dùng từ “ngôn sứ” nữa, theo con điều này không đáng tin. Danh sách các thành viên trong uỷ ban không tạo cho con sự tin tưởng so với những chứng cứ con nêu ở trên vì con biết khá nhiều về những vị này. À con cũng quên chưa nhắc đến một vị rất có uy tín và khả năng chuyên môn cao về Kinh Thánh hiện nay là cha Vũ Phan Long, OFM mà trong những giáo trình cũng như những bài viết ở báo Hiệp Thông cho đến nay vẫn dùng từ “ngôn sứ”. Sau cùng, như để làm cho việc dùng lại từ “tiên tri” của UB có cơ sở, cha đưa ra một “ghi nhận đáng kể là bản dịch Phụng vụ 1971 và vài nhà Kinh Thánh danh tiếng như cha Nguyễn Thế Thuấn và cha Trần Đức Huân… đã dùng từ “tiên tri” mà không dùng từ “ngôn sứ” (nguyên văn).Điều này không thuyết phục vì hai lý do:
a) Vào thời điểm đó chưa có từ “ngôn sứ”.
b) Những bản dịch cũ chỉ có tính cách tham khảo để giúp bản dịch mới hoàn hảo hơn, chứ không luôn luôn là tiêu chuẩn để bản mới phải theo. Con xin lấy ví dụ bản dịch của cha Trần Đức Huân có một câu trong Tin Mừng Gioan1,1: θεός hh8h8hh8hçoỏhv o λόγος, nhưng chắc hẳn ngài đã theo bản La tinh: Deus erat Verbum, vì không có mạo từ nên ngài dịch “Thiên Chúa là Ngôi Lời” mà lẽ ra phải dịch: “Ngôi Lời là Thiên Chúa” vì trong câu Hy Lạp có mạo từ nên λόγος là chủ ngữ trong câu. Còn bản dịch của cha N.T.Thuấn trong sách Habacuc 2,16 có một từ: עָרֵל (con không tiện viết ra ở đây), thử hỏi có ai dám dùng lại từ đó cho bản dịch mới không? Cha lấy những bản văn cách đây gần nửa thế kỷ để làm tiêu chuẩn thì làm sao có sức thuyết phục.
Con tìm trong nhà mình xem có sách vở tài liệu nào còn dùng từ "tiên tri" để chỉ những prophetes, thì tình cờ con thấy một băng video ca nhạc thiếu nhi do nhà văn hóa thiếu nhi Tp. phát hành cách nay gần 10 năm, của đứa con trai con, có một bài hát rất vui nhộn với những hình ảnh minh họa: “Kìa năm ông "tiên tri" đi xem voi...” bài hát diễn tả năm ông mù xem voi, mỗi ông rờ một bộ phận, cũng tranh luận sôi nổi rồi đoán con voi là như thế! Ông nào cũng cho mình là đúng rốt cuộc cả 5 đều nói trật lất, chắc hẳn tác giả bài hát đã muốn dùng từ “tiên tri” để chỉ những người hay nói mò!!! dù sao thì từ "tiên tri" cũng dễ làm người ta liên tưởng đến những ông thầy bói, thầy chiêm tinh, tướng số ...
3. Dùng từ “tiên tri” hay “ngôn sứ” ?
Ngôn ngữ chỉ là phương tiện truyền đạt tư tưởng có tính quy ước và tương đối. Theo con, cả hai từ “tiên tri” và “ngôn sứ” vẫn nên được sử dụng tuỳ theo trường hợp. Từ “ngôn sứ” để chỉ một người được Chúa giao cho sứ mạng phục vụ dân Chúa bằng lời giảng dạy, truyền đạt lời Chúa cho dân, đôi lúc có cả những lời quở trách, răn đe, cũng có lúc “nói tiên tri” về những điều sẽ xảy đến. Từ “tiên tri” chỉ một ơn huệ, một khả năng Thiên Chúa ban cho một người để loan báo một điều nào đó sẽ xảy đến theo ý định của Thiên Chúa, như trường hợp Thượng tế Caipha đã nói một lời tiên tri về cái chết của Chúa Giêsu sẽ quy tụ con cái Thiên Chúa (x. Ga 11,50-51) và theo Thánh Phaolô, ơn tiên tri cũng chỉ có ngần có hạn (x. 1Cr 13,9). Đôi lúc, trong một câu cần sử dụng cả 2 từ thì cách diễn tả mới rõ ràng như 1Cr 14,32: “ngôn sứ thì làm chủ những cảm hứng tiên tri của mình”.
Thưa cha, trong bài viết cha đưa ra một lý do mà UB không dùng từ “ngôn sứ” vì người Trung Hoa không hiểu cách ghép từ này, con xin phép hỏi UB dịch Phụng vụ cho người Việt Nam hay người Trung Hoa. Tiếng Việt của mình chịu ảnh hưởng của nhiều ngôn ngữ, đặc biệt là Trung Hoa. Việc tạo từ mới để làm cho cách diễn tả được phong phú miễn là cách tạo từ hợp lý và được nhiều người chấp nhận. Xin hỏi cha có từ điển tiếng Hán nào có chữ bí tích không? Hay là ta phải ghép hai từ bí 秘 và tích 迹 và còn nhiều từ nữa như huấn giáo, linh mục, Phụng vụ, dự tòng…có tác giả còn ghép một tiếng Nôm với một tiếng Hán như từ “nhiệm tích” mà có ai phản đối đâu mặc dù cách ghép đó không hợp lý. Con hy vọng Giáo Hội Viêt Nam sớm có một cuốn từ điển đầy đủ, chính xác và khách quan về các từ thần học cũng như Phụng vụ, để kho tàng ngôn ngữ nhà đạo được phong phú. Theo con nhận thấy, Chúa ban cho Giáo Hội Việt Nam rất nhiều tu sĩ, linh mục dòng cũng như triều, có khả năng và trí tuệ trong mọi lãnh vực thần học, Kinh Thánh, mục vụ … vị nào cũng được học đến nơi đến chốn, bằng cấp giá trị. Nếu như biết đón nhận nhau, biết nhìn nhận giá trị của nhau để đi đến hiệp nhất trong những khác biệt, thì ích lợi biết bao, dân Chúa được hưởng những tinh hoa của sự hiệp nhất ấy, nhưng thực tế, ai cũng cho mình là đúng, công khai hoặc ngấm ngầm chê bai để hạ uy tín của nhau bằng cách này cách khác. Lời nói sơ suất vô tình hay hữu ý của những người có tài năng, có chức vị càng cao sẽ gây tai hoạ càng nhiều.
Đôi lời tâm sự.
Thưa cha, con mong rằng lá thư này không làm mất đi tương quan của cha và con, cho dù tương quan ấy chẳng được mặn mà lắm, vì cha biết đấy, thỉnh thoảng con vẫn nhờ cha chỉ dẫn những điều con chưa nắm vững về phụng vụ khi soạn bài dạy giáo lý, vì hiện nay trong các linh mục trẻ có ai hơn cha về lãnh vực Phụng vụ đâu, con vẫn phải tham khảo sách của cha để soạn bài. Con còn một tâm sự muốn chia sẻ với cha, là ngoài bài của cha, con cũng đọc bài của Đức Cha Phêrô Trần Đình Tứ, chủ tịch UBPT trong báo Hiệp Thông và tập san Công Giáo Dân Tộc, con nhận thấy bài trả lời phỏng vấn của ngài, cũng cùng một kiểu nói như cha, nghĩa là luôn để cao những việc làm của UBPT là đúng, là hay, là siêu việt, trong sáng, thỉnh thoảng lại chen vào những câu nhắc nhở cho độc giả thấy cái quyền của mình. Con không dám bàn luận nhiều, chỉ xin nhận xét vài điểm này. Đọc phần cuối bài của Đức Cha, lúc đầu con thấy vui vì nhận thấy tâm tình của Đức Cha sao mà gần gũi với mình thế, ngài vui vì thấy sách bán chạy, hết sớm, con làm nghề sách cũng vui vì làm được nhiều, kinh tế ổn định … nhưng bỗng thấy buồn vì hình ảnh vị mục tử vui vì bán được nhiều sách khá mới mẻ, không hề có trong Tin Mừng. Trong Tin Mừng con chỉ thấy hình ảnh vị mục tử vui vì tìm được con chiên lạc, dù phải hy sinh mạo hiểm, vui vì thấy đoàn chiên của mình trưởng thành được no đủ với những thức ăn bổ dưỡng. Ngày nay, chẳng còn thấy hình ảnh đẹp và cảm động của một Inhaxiô Antiôkhia, Giám mục tử đạo viết thư cho Pôlycap cũng là Giám mục với lời lẽ chân thành, khen ngợi có, khuyến khích có, cũng không ngại nhắc nhở. Ngài viết trong thư rằng: “Xin Đức Cha chứng tỏ mình là Giám mục bằng cách xả thân lo lắng cho đoàn chiên. Mối bận tâm hàng đầu của Đức cha phải là sự hiệp nhất… Xin Đức cha hãy lấy lòng bác ái mà nhẫn nhục chịu đựng mọi người như Đức cha vẫn làm, vất vả càng nhiều, công phúc càng lớn… Nếu Đức cha chỉ yêu thương các môn đệ tốt lành thì Đức cha chẳng đáng được công trạng gì. Tốt hơn Đức cha hãy lấy đức hiền hoà mà cảm hoá những kẻ hư hỏng nhất. Người ta không băng bó mọi vết thương như nhau. Đức cha hãy lấy sự dịu dàng như nước mà hạ nhiệt những cơn nóng nảy. Đức cha phải khôn ngoan như con rắn và đơn sơ như bồ câu…” (Trích trong bài đọc 2, KS thứ sáu, tuần XVII TN). Ngày nay, các Đấng thường nể nhau, sợ mất lòng nhau, nên thường chỉ ca tụng nhau, chứ không dám thẳng thắn góp ý để xây dựng. Con nói lên những suy nghĩ thật lòng mà không sợ mang tiếng là hỗn, còn các Đấng muốn la rầy con thế nào thì tuỳ. Vì từ cổ chí kim yêu nên tốt ghét nên xấu như câu chuyện Di Tử Hà khi còn được vua sủng ái, việc tự tiện lấy xe của vua để đưa mẹ đi chữa bệnh, thay vì phải bị chặt chân theo phép nước, nhưng vua lại khen đó là người có hiếu. Một lần khác cùng vua đi dạo trong vườn, đang ăn quả đào thấy ngon còn một nửa bèn đưa cho vua, vua khen là một trung thần yêu vua đến độ của ăn đang ngon miệng mà biết nhường vua. Đến sau, vua không còn sủng ái nữa, Di Tử Hà một hôm phạm lỗi, vua nhắc lại cả lỗi cũ là dám tự tiện lấy xe và dám cho vua ăn của thừa, vì thế bị mang ra trị tội (Cổ học tinh hoa).
Đoạn cuối trong bài trả lời phỏng vấn, còn có một câu: “Đừng áp đặt ý kiến và cách thức làm việc của mình lên đầu lên cổ người khác, bắt người khác phải làm theo rồi nếu không được thì la làng lên!”. Ôi, một Giám mục, thầy dạy chân lý mà lại có kiểu nói gay gắt như vậy ư, chẳng dịu dàng chút nào, có lẽ ngài đang bức xúc một vấn đề gì đó mà không tiện nói ra một cách thẳng thắn. Con chỉ buồn mà nói vậy thôi, chứ không dám coi thường ngài đâu, con nhớ một câu của ĐHY Thuận trong cuốn đường hy vọng: “dưới lớp áo nào cũng là một trái tim bằng thịt”, và trong lá thư của Thánh Inhaxiô gửi Thánh Pôlycap cũng có câu: “Vì Đức cha cũng là con người có hồn có xác như ai”. Vì thế, mọi tín hữu phải cầu nguyện cho các Giám mục nhiều hơn nữa và cảm thông với các ngài về những bất toàn. Khổ nỗi giáo dân Việt Nam luôn coi các Đấng như thần thánh, làm cho các ngài cũng thấy mình như bất khả xâm phạm. Người ta phạm đủ thứ tội với Chúa thì không cảm thấy nặng nề, đối xử bất công với nhau thì thấy bình thường, nhưng ai tỏ ra bất kính với các Đấng, dù là một điều nhỏ nhặt thì cũng bị lên án. Một thanh niên uống rượu thì bị coi là bê tha, nhưng một linh mục uống rượu be bét, nói năng lung tung thì được coi là chịu chơi, biết hoà đồng với mọi người. Một giáo dân xưng hô với linh mục là cha xưng “tôi”, thì bị cho là bất lịch sự, là hỗn, nhưng linh mục gọi người khác là mày xưng tao, thì lại thấy bình thường, điều này con đã từng mắt thấy tai nghe.
Thưa cha, con nói miên man nhiều chuyện chắc cũng làm cha bực mình, và biết rằng những điều mình nói chẳng được các Đấng quan tâm đâu, nhưng trong lòng con vẫn có sự thúc giục phải nói lên những điều mình suy nghĩ. Con luôn ao ước rằng sau một thời gian với những góp ý, phê bình, tranh chấp, kể cả những bất hoà sẽ đưa Giáo Hội Việt Nam đến chỗ trưởng thành hơn, yêu thương và quý trọng nhau hơn để dù ở trong cương vị nào, lãnh vực nào vẫn có một sự hiệp thông và cảm mến nhau. Kính chúc cha luôn dồi dào sức khoẻ, giữ mãi được nét tươi trẻ và đầy hăng say trong sứ mạng xây dựng Hội Thánh. Chào cha.
An Lạc, ngày 28 tháng 7 năm 2006
Phêrô Nguyễn Tuấn Hoan
Subscribe to:
Posts (Atom)
